Trong mô hình IRT logistic, a mô tả độ phân biệt, b định vị độ khó trên thang năng lực và c là tiệm cận dưới của đường xác suất khi mô hình có tham số này. Các giá trị cần được đọc trong đúng mô hình và thang đo đã dùng để ước lượng.
Trong bảng phân tích câu hỏi, ba cột a, b, c có thể khiến em nghĩ mình đang đọc một công thức rất xa việc học. Thực ra, chúng mô tả những mặt khác nhau của câu hỏi trong mô hình. Cách đọc dễ nhất là thay từng giá trị, giữ những giá trị còn lại, rồi xem đường xác suất thay đổi ở đâu.
b chỉ vị trí chứ không phải phần trăm học sinh làm sai
Tham số b thường được gọi là độ khó. Trong dạng logistic đang xét, b chỉ vị trí câu hỏi trên thang năng lực. Khi giữ các đặc điểm khác như nhau, tăng b làm đường cong dịch sang phải: cần vị trí năng lực cao hơn để có cùng xác suất trả lời đúng. b bằng 1 không có nghĩa 1% học sinh làm sai; b bằng −1 cũng không có nghĩa câu hỏi có độ khó âm theo cách nói thông thường [1].
a mô tả độ dốc ở vùng câu đang phân biệt
Tham số a mô tả độ phân biệt. Với cùng b và c, a lớn hơn làm xác suất thay đổi nhanh hơn quanh vùng chuyển tiếp. Ở hình minh họa, so a bằng 0,7 với 1,5 giúp nhìn thấy sự khác nhau ấy. Đường dốc hơn chưa tự chứng minh câu có nội dung đúng, phù hợp chương trình hoặc nên giữ trong mọi đề. Những kết luận đó còn cần thẩm định khác.

Đồ thị mô phỏng theo mô hình logistic, hệ số tỷ lệ D = 1. Mỗi ô chỉ thay một tham số; các tham số giữ cố định được ghi trong hình.
c là tiệm cận dưới của đường xác suất
Trong 3PL, c mô tả mức mà xác suất tiến gần ở phía năng lực rất thấp theo mô hình. Vì thế, c thường được nhắc trong bối cảnh trả lời đúng do đoán. Tuy nhiên, giá trị ấy không cho biết chính xác học sinh nào đã đoán, và không tự động bằng một chia cho số phương án. Một câu có bốn lựa chọn không bắt buộc phải có c bằng 0,25.
Cũng cần đọc b cùng mô hình. Khi c bằng 0, tại vị trí năng lực bằng b, xác suất đúng là 50%. Nếu c bằng 0,20, vị trí ấy cho xác suất 60%, vì nằm ở giữa mức 20% và 100%. Do đó, quy tắc “b luôn là nơi xác suất đúng 50%” không áp dụng nguyên vẹn cho 3PL [1, 2].
Đọc cả hồ sơ thay vì chọn một cột đẹp
Một bảng sử dụng được nên ghi rõ mô hình, thang và độ bất định của ước lượng. Hai giá trị b ở hai lần hiệu chuẩn chưa được nối thang không nên được so trực tiếp như hai con số trên cùng một thước. Tương tự, tham số cần được đối chiếu với nội dung và dữ liệu trả lời; một giá trị bất thường là lý do để kiểm tra tiếp, chưa phải kết luận cuối cùng về câu.
Trong luyện thi đánh giá năng lực V-ACT hoặc HSA, nếu báo cáo có bảng tham số, học sinh nên dùng nó để hiểu câu được phân tích theo góc nào. Việc quyết định luyện gì vẫn cần xem mình sai ở bước nào và kiến thức nền ra sao. Một câu có a cao không đương nhiên là câu em nên ưu tiên học trước mọi nội dung khác.
Em có thể tự kiểm tra cách đọc bằng ba câu hỏi: thay b thì đường dịch đi đâu; thay a thì vùng chuyển tiếp thay đổi thế nào; thay c thì phần dưới của đường cong ra sao. Khi trả lời được bằng hình, các ký hiệu đã bắt đầu gắn với ý nghĩa, thay vì chỉ là ba chữ cần học thuộc.
Nguồn tham khảo
[1] Baker, F. B. (2001). The Basics of Item Response Theory, 2nd ed. ERIC Clearinghouse on Assessment and Evaluation. Xem tài liệu
[2] De Champlain, A. F. (2010). A primer on classical test theory and item response theory for assessments in medical education. Medical Education, 44, 109–117. DOI 10.1111/j.1365-2923.2009.03425.x