Quản lý ngân hàng · Ứng dụng

Đọc bản đồ ngân hàng 120 câu để lập danh sách nhóm cần bổ sung

Trong bài viết này

Một ngân hàng ghi có 120 câu nhưng có thể vẫn thiếu đúng nhóm câu cần để tạo đề. Muốn lên kế hoạch bổ sung, trước hết phải tách câu đang lưu khỏi câu đủ quyền sử dụng, rồi xem các câu ấy phân bố trong những ô mục tiêu nào. Bản đồ giúp quyết định công việc tiếp theo cụ thể hơn lời yêu cầu “viết thêm vài chục câu”.

Đếm câu theo một quy tắc thống nhất

Tình huống hoàn toàn tự dựng có 120 mã câu riêng, mỗi mã chỉ được đếm một lần theo bản đang theo dõi; các bản lịch sử không làm tăng tổng này. Ngân hàng dự kiến phục vụ một mục tiêu THPT trên thang minh họa SP-K. Trong đó, 84 câu đang đủ quyền chọn cho phạm vi này; 36 câu còn lại chưa đủ quyền dùng.

Kéo ngang bảng để xem đầy đủ các cột.

Mảng nội dung tự dựngĐang lưuĐủ quyền dùngChưa đủ quyền
Đọc dữ liệu504010
Quan hệ định lượng40328
Lập luận301218
Tổng1208436

Giả sử 36 câu chưa đủ quyền được phân vào ba nhóm không chồng nhau: 14 chờ hoàn thiện nội dung, 12 chờ bằng chứng dữ liệu và 10 tạm ngừng. Các số này mô tả trạng thái giả định, không phải kết quả nghiệm thu thật. Nếu chỉ báo 120 mà không ghi quyền dùng, người tổ hợp có thể nhầm có đủ câu sẵn sàng cho mọi ô.

Đặt câu đủ quyền dùng vào chín ô

Để đọc bản đồ, mỗi mảng được chia tiếp theo vị trí b: b<−0,5; −0,5≤b≤0,5; b>0,5. Tất cả b đều được giả định theo cùng quy ước 2PL, D=1, c=0 trên SP-K. Đây là cách chia phục vụ ví dụ quản trị, không phải mức năng lực của học sinh hay phân loại mức suy luận. Một câu suy luận có thể có b thấp hoặc cao tùy nhiệm vụ và đối tượng.

Kế hoạch tự đặt là ít nhất 12 câu đủ quyền trong mỗi ô để có nguồn lựa chọn dự phòng. Con số 12 không phải chuẩn tối thiểu cho mọi ngân hàng. Bản đồ dưới chỉ gồm 84 câu đang đủ quyền; 36 câu còn lại chưa được cộng vào khả năng sử dụng.

Bản đồ giả định84câu đủ quyền trong120câu: các hàng15,18,7;6,16,10;4,6,2. Chỉ tiêu12mỗiô; tổng thiếu37vàvượt13. Màu vàng biểu thị phần thiếu nhiều hơn.

Bản đồ giả định của 84 câu đủ quyền dùng trong ngân hàng lưu 120 câu. Mỗi ô ghi số đang có và phần còn thiếu so với mục tiêu ít nhất 12. Chỉ tiêu và cách chia vùng đều phục vụ ví dụ.

Chẳng hạn, đọc dữ liệu ở vùng b>0,5 có 7 câu nên còn thiếu 5. Lập luận ở vùng b>0,5 chỉ có 2 nên thiếu 10. Ngược lại, 18 câu đọc dữ liệu ở vùng giữa không bù được phần thiếu của lập luận: chúng thuộc ô khác và có thể yêu cầu hoạt động tư duy khác.

Chuyển phần thiếu thành danh sách công việc

Ô cần bổ sung câu đủ quyềnĐang cóThiếu so với 12
Lập luận, b>0,5210
Lập luận, b<−0,548
Quan hệ định lượng, b<−0,566
Lập luận, −0,5≤b≤0,566
Đọc dữ liệu, b>0,575
Quan hệ định lượng, b>0,5102
Tổng phần thiếu trong sáu ô—37

Nếu chỉ lấy mục tiêu tổng 9×12=108 trừ 84, kết quả là 24. Nhưng cần tăng 37 câu đủ quyền vào đúng các ô thiếu mới đạt riêng mục tiêu từng ô, vì ba ô đang có tổng cộng 13 câu vượt mức 12. Phần vượt ấy vẫn có thể hữu ích làm dự phòng; nó không tự chuyển sang một mảng hoặc vùng khác.

Danh sách này chưa có nghĩa phải viết mới ngay 37 câu. Cần mở hồ sơ 36 câu chưa đủ quyền để xem câu nào thuộc đúng ô cần, phần việc nào có thể hoàn thiện và bằng chứng nào còn thiếu. Không được tự cho chúng trạng thái đạt để làm đẹp bản đồ. Lượng câu phải viết mới phụ thuộc kết quả rà này và khả năng phát triển đúng nhóm còn thiếu.

Bản đồ vị trí chưa thay cho thông tin đo lường

Hai câu có b gần nhau vẫn có thể khác độ phân biệt, bất định tham số, ngữ liệu hoặc điều kiện dùng. Vì vậy, lấp đủ ô theo b chưa bảo đảm đề tạo ra có đủ thông tin ở vùng năng lực cần đo. Livingston giải thích rằng đường thông tin hỗ trợ lựa chọn theo vùng nhưng không kiểm hộ nội dung [1]. Cần nối bản đồ với hồ sơ câu và phép kiểm cả đề.

Cũng phải xem chùm câu, các câu gợi ý nhau, giới hạn sử dụng và yêu cầu liên kết. Mười hai câu trong một ô nhưng đều thuộc một ngữ liệu phải dùng theo cụm có thể cho ít phương án chọn hơn mười hai câu riêng. Nghiên cứu tổ hợp đề thể hiện cách kết hợp các điều kiện nội dung, chùm và đo lường trong cùng bài toán [2].

Bàn giao một kế hoạch có thể theo dõi

Một phiếu kế hoạch có thể ghi ô ưu tiên, số cần tăng về trạng thái đủ quyền, nguồn từ sửa câu cũ hay viết mới, người phụ trách, bằng chứng cần có và mốc rà. Thứ tự không nhất thiết chỉ theo số thiếu lớn nhất: còn phải xét mục tiêu sử dụng sắp tới, mức hệ trọng và nguồn lực. Mỗi chu kỳ nên dựng lại bản đồ từ trạng thái đã được xác nhận.

Với học sinh, nguyên tắc tương tự giúp nhìn kho bài luyện của mình: có nhiều bài quen không đồng nghĩa đã phủ đủ kỹ năng cần học. Em có thể dùng một bản đồ đơn giản theo chủ đề và loại nhiệm vụ để chọn phần còn thiếu. Không cần tự ước lượng b; các vùng IRT trong ví dụ này là công cụ của hồ sơ đo lường, không phải yêu cầu tự gán nhãn năng lực cho bản thân.

Nguồn tham khảo

[1] Livingston, S. A. (2020). Basic Concepts of Item Response Theory: A Nonmathematical Introduction. ETS RM-20-06, tr. 13. Xem tài liệu

[2] Becker, B., Debeer, D., Sachse, K. A., & Weirich, S. (2021). Automated Test Assembly in R: The eatATA Package. Psych, 3(2), 96–112, các phần 3.2–3.3. DOI 10.3390/psych3020010. Xem tài liệu

Tất cả bài trong Quản lý ngân hàng Về kho kiến thức

Bạn đang tìm điều gì?

Gõ có dấu hoặc không dấu · Esc để đóng