Một câu có 56% học sinh làm đúng. Nếu chỉ giữ cột đúng/sai, ta biết gần một nửa nhóm chưa trả lời đúng nhưng không biết họ đã chọn gì. Khi mở lại các lựa chọn A, B, C, D, câu chuyện rõ hơn: một phương án kéo nhiều người sang một hướng tính, một phương án hầu như không ai chọn.
Nhiễu là những đáp án sai có chủ đích
Trong câu trắc nghiệm một đáp án đúng, phương án nhiễu là lựa chọn sai được viết để phản ánh những cách hiểu hoặc cách làm chưa phù hợp. Một nhiễu có ích cần đủ hợp lý để người chưa nắm chắc có thể cân nhắc, đồng thời phải sai rõ ràng theo dữ kiện. Viết một con số vô lý chỉ để đủ bốn lựa chọn thường không giúp hiểu người học.
Dữ liệu lựa chọn cho biết các phương án đã được dùng ra sao trong một nhóm thực tế. Nó giúp kiểm tra ý định của người biên soạn: lựa chọn tưởng hợp lý có thu hút ai không, hoặc một nhiễu có đang hấp dẫn bất thường? Tarrant và cộng sự sử dụng tần suất lựa chọn cùng chỉ số phân biệt phương án để nghiên cứu hoạt động của nhiễu [1].
Một câu nhỏ, một bảng đọc được ngay
Câu hỏi tự dựng: “Bản đồ có tỷ lệ 1: 50.000. Hai địa điểm cách nhau 4 cm trên bản đồ. Khoảng cách thực tương ứng là bao nhiêu?”. Giả sử 200 người đều chọn đúng một phương án; không có bỏ trống. Tất cả số liệu dưới đây chỉ để minh họa, không phải dữ liệu của Song Pa, Empire hay một kỳ thi tuyển sinh.
Kéo ngang bảng để xem đầy đủ các cột.
| Phương án | Số người chọn | Tỷ lệ trên 200 | Điều gợi ra để kiểm |
|---|---|---|---|
| A.0,2 km | 60 | 30% | Có thể sai một bậc khi đổi cm sang km. |
| B.2 km — đáp án đúng | 112 | 56% | 4 × 50.000 = 200.000 cm = 2 km. |
| C.20 km | 24 | 12% | Có thể đổi đơn vị thiếu một bậc. |
| D.2.000 km | 4 | 2% | Có thể nhầm 2000 m thành 2000 km; rất ít người chọn. |
Bảng minh họa do Song Pa xây dựng; 60 +112 +24 +4 = 200 và các tỷ lệ cộng thành 100%. Cột cuối là giả thuyết để kiểm, không phải kết luận về cách nghĩ của từng người.
Bảng cho thấy A đáng chú ý hơn D về số lượt chọn. Nhưng không được nói chắc cả 60 người chọn A đều sai ở cùng bước đổi đơn vị. Một số em có thể đọc nhầm, tính nhẩm sai, đổi đáp án phút cuối hoặc chọn khi chưa giải. Muốn xác định cơ chế lỗi, cần xem bài làm hoặc hỏi em giải thích một vài bước.
Ít người chọn: kiểm tra trước khi thay
D được chọn 2% nên có thể là phương án ít hoạt động trong mẫu này. Người biên soạn nên xem D quá vô lý, nhóm thử quá thành thạo, hay dạng sai mà D đại diện vốn ít xảy ra. Không thể quyết định chỉ bằng nhãn “dưới 5%”. Mốc 5% xuất hiện như một quy ước phân tích trong nghiên cứu của Tarrant và cộng sự; nó không phải luật nghiệm thu chung cho mọi bài thi [1].
Nếu quyết định sửa D, hãy viết một nhiễu gắn với lỗi có thật trong bài làm thử. Sau sửa cần thử nghiệm phiên bản mới, vì đổi một lựa chọn có thể làm thay đổi cách học sinh nhìn toàn câu. Không lấy thống kê của D cũ rồi gắn nguyên cho D mới.
Mẫu phiếu quyết định sau khi xem bảng
| Dấu hiệu minh họa | Kiểm tiếp điều gì? | Quyết định tạm thời |
|---|---|---|
| A có 60 lượt chọn | Đọc 10 bài chọn A hoặc phỏng vấn ngắn; xác định bước đổi đơn vị. | Giữ để thẩm định nội dung; chưa gọi là chẩn đoán lỗi của 60 người. |
| D chỉ có 4 lượt chọn | Độ hợp lý của số 2000 km; mức thành thạo của nhóm thử. | Đề xuất chỉnh nếu ít hữu ích; thử lại trước sử dụng. |
| Chỉ còn tệp 0/1 | Tìm lại lựa chọn gốc và phiên bản đáp án. | Chưa thể tái tạo tần suất A/C/D từ cột đúng/sai. |
| Có bỏ trống ở dữ liệu thật | Tách không chọn, chọn nhiều và chưa tới câu nếu dữ liệu cho phép. | Ghi mẫu số rõ; không âm thầm bỏ người khỏi bảng. |
Phiếu này là một sản phẩm đơn vị có thể gửi lại cho nhóm viết câu: có bằng chứng, việc kiểm tiếp và quyết định có điều kiện. Nó hữu ích hơn một dòng “câu có 56% đúng, đạt” vì chỉ ra phần nào của câu cần được chăm sóc.
IRT thêm một lớp nhìn, nhưng không thay dữ liệu lựa chọn
Mô hình IRT chấm nhị phân dùng kết quả đúng/sai có thể ước lượng đặc điểm đo của câu. Muốn biết người ở các vùng năng lực chọn nhiễu nào, phải nối kết quả ấy với lựa chọn gốc; bài 130 sẽ đi vào cách đọc theo nhóm. Không thể suy các tần suất A, C và D chỉ từ a, b hoặc tổng số người sai.
Với học sinh luyện V-ACT, HSA hoặc TSA, việc xem nhiễu giúp buổi chữa đề đi xa hơn đáp án đúng. Em có thể chỉ ra vì sao một lựa chọn có vẻ hợp lý rồi tự kiểm lại phép đổi đơn vị hay điều kiện còn thiếu. Còn với người ra đề, mỗi lượt chọn là bằng chứng cần giải thích cẩn thận, để sửa câu và cải thiện phản hồi học tập.
Nguồn tham khảo
[1] Tarrant, M., Ware, J. & Mohammed, A. M. (2009). An assessment of functioning and non-functioning distractors in multiple-choice questions: a descriptive analysis. BMC Medical Education, 9,40. DOI 10.1186/1472-6920-9-40. Xem tài liệu