Nền tảng IRT · Cơ bản

Đo lường trong giáo dục là gì và chúng ta đang đo điều gì

Trong bài viết này

Đo lường trong giáo dục là quá trình sử dụng bằng chứng từ nhiệm vụ, câu trả lời hoặc sản phẩm học tập để mô tả một đặc điểm cần đánh giá. Điểm số có ý nghĩa khi được đọc cùng nội dung bài thi, cách chấm và mục đích sử dụng.

Em được 8 điểm Toán ở lớp, nhưng khi làm đề thi đánh giá năng lực lại lúng túng trước một bảng số liệu. Điều đó có nghĩa là em học chưa tốt, hay hai bài đang yêu cầu những việc khác nhau? Hiểu bài thi đang tìm bằng chứng gì sẽ giúp em đọc kết quả và chọn việc cần luyện tiếp.

Bài thi tìm bằng chứng từ những việc em làm được

Khi đo chiều cao, ta đặt thước rồi đọc số xentimét. Với khả năng đọc hiểu hoặc suy luận, thầy cô cần giao nhiệm vụ để em thể hiện: đọc một đoạn văn, giải thích một nhận xét, chọn đáp án hoặc giải một bài toán. Kết quả thực hiện những nhiệm vụ đó cung cấp bằng chứng để diễn giải điều em làm được.

Đo lường trong giáo dục sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ, theo quy tắc nhất định, để mô tả bằng số một đặc tính của người học, như đọc hiểu hay suy luận định lượng. Diễn giải điểm là xem con số ấy cho biết điều gì về em, trong phạm vi bài thi đã thiết kế.

Trong tài liệu khảo thí, construct chỉ đặc tính mà phép đo hướng tới. Em có thể hiểu đó là điều bài thi muốn biết về người học. Với một câu hỏi từ bảng dữ liệu, đó có thể là khả năng đọc đúng đại lượng và lập luận từ bằng chứng.

Cùng một bảng số liệu nhưng hai yêu cầu khác nhau

Một trường khảo sát việc đi xe buýt của học sinh trong hai năm. Em hãy đọc bảng rồi thử trả lời hai câu dưới đây.

Năm khảo sátSố học sinh được khảo sátSố học sinh đi xe buýt
2024200120
2025300165

Số liệu minh họa.

Câu A. Trong nhóm được khảo sát năm 2025, bao nhiêu phần trăm học sinh đi xe buýt?

Câu B. Một bạn nhận xét: “Năm 2025 có nhiều học sinh đi xe buýt hơn, nên tỷ lệ học sinh đi xe buýt cũng tăng”. Nhận xét này có được bảng số liệu ủng hộ không?

Ở câu A, lấy 165 chia 300 rồi nhân 100, em được 55%. Câu B cần thêm một bước: tính tỷ lệ năm 2024 là 120 chia 200, bằng 60%, rồi đối chiếu. Số học sinh đi xe buýt tăng từ 120 lên 165, nhưng tỷ lệ trong nhóm khảo sát giảm từ 60% xuống 55%. Nhận xét của bạn vì vậy chưa đúng.

Hai biểu đồ minh họa số học sinh đi xe buýt tăng nhưng tỷ lệ trong mẫu giảm

Câu A cho em cơ hội thể hiện cách tính tỷ lệ. Câu B còn yêu cầu phân biệt số lượng với tỷ lệ và kiểm tra một kết luận. Nếu tính đúng câu A nhưng đồng ý với nhận xét ở câu B, em có một chỗ cụ thể cần xem lại: cách dùng đại lượng để lập luận. Thông tin này hữu ích hơn một nhận xét chung rằng em “yếu phần số liệu”.

Một câu trả lời mới cung cấp một phần bằng chứng. Muốn hiểu khả năng của người học rộng hơn, bài thi cần nhiều nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu, thay vì dựa vào một câu đơn lẻ.

Liên hệ với thi đánh giá năng lực ở Việt Nam

Trong thông tin V-ACT năm 2026, ĐHQG-HCM giới thiệu bài thi ĐGNL nhằm đánh giá năng lực cơ bản để học đại học. Cấu trúc gồm sử dụng ngôn ngữ, Toán học và tư duy khoa học; trong đó có các yêu cầu phân tích số liệu, suy luận và lựa chọn phương án từ thông tin cho trước [1].

ĐHQGHN cũng nêu định hướng HSA năm 2026 chú trọng tư duy, lập luận, xử lý dữ liệu, giải quyết vấn đề và vận dụng kiến thức [2]. Vì vậy, khi ôn thi đánh giá năng lực, em nên đọc đề minh họa để nhận ra nhiệm vụ: đề yêu cầu tính, giải thích, đối chiếu hay kiểm tra một kết luận? Cùng một nội dung đã học có thể xuất hiện trong những yêu cầu khác nhau.

Điểm thi cần được hiểu trong phạm vi bài thi

ĐHQG-HCM giới thiệu việc sử dụng IRT, tức lý thuyết ứng đáp câu hỏi, để xác định kết quả ĐGNL [1]. Cách tiếp cận này sử dụng dữ liệu trả lời để ước lượng năng lực. Khi đọc điểm, em cần xem cả mục tiêu và nội dung bài thi.

Michael T. Kane, trong Journal of Educational Measurement, nhấn mạnh cách diễn giải và sử dụng điểm cần có bằng chứng hỗ trợ [3]. Độ giá trị, hay validity, đặt ra câu hỏi: căn cứ hiện có đã đủ để rút ra nhận định ấy từ điểm thi chưa?

Ví dụ, kết quả một nhóm câu đọc dữ liệu có thể gợi ý em cần kiểm tra lại cách so sánh tỷ lệ. Muốn nhận xét về năng lực học tập rộng hơn cần thêm bằng chứng ở những nhiệm vụ khác. Điểm của một lần thi cũng chưa kể hết sự cố gắng, hứng thú hay khả năng phát triển của em.

Sau khi nhận điểm hãy chọn một việc có thể sửa

Hãy chọn một câu sai, ghi điều đề yêu cầu và bước em còn vướng. Nếu chưa rõ, mang cả cách làm để hỏi giáo viên. Việc xem lại bài sẽ có đích cụ thể hơn.

Với ví dụ xe buýt, nếu em tính đúng 55% nhưng vẫn cho rằng tỷ lệ tăng, lượt luyện tiếp nên tập trung vào phân biệt số lượng và tỷ lệ. Thử dữ kiện mới: nhóm thứ nhất có 80 trong 100 học sinh đi xe buýt; nhóm thứ hai có 120 trong 200 học sinh. Số người tăng, nhưng tỷ lệ lần lượt là 80% và 60%. Hãy tự giải thích vì sao hai kết luận ấy cùng đúng.

Khi hiểu bài thi đang tìm bằng chứng gì, em có thể dùng kết quả để chọn đúng một việc cần luyện tiếp. Đó là cách điểm số trở thành thông tin giúp việc học rõ hướng hơn.

Nguồn tham khảo

[1] Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng Đào tạo, ĐHQG-HCM (2026). Một số câu hỏi thường gặp kỳ thi Đánh giá năng lực ĐHQG-HCM, mục 2, 5 và 7. Thông tin chính thức

[2] ĐHQGHN (31/7/2026). HSA 2026: ĐHQGHN tiếp tục nâng cao chất lượng kỳ thi đánh giá năng lực theo hướng chuẩn hóa, hiện đại. Thông tin chính thức

[3] Kane, M. T. (2013). Validating the Interpretations and Uses of Test Scores. Journal of Educational Measurement, 50(1), 1–73. DOI 10.1111/jedm.12000

Tất cả bài trong Nền tảng IRT Về kho kiến thức

Bạn đang tìm điều gì?

Gõ có dấu hoặc không dấu · Esc để đóng