Nền tảng IRT · Cơ bản

Đánh giá đo lường và chấm điểm khác nhau như thế nào

Trong bài viết này

Chấm điểm áp dụng quy tắc để ghi nhận kết quả bài làm; đo lường dùng bằng chứng để mô tả đặc điểm cần đo; đánh giá diễn giải bằng chứng theo mục tiêu hoặc tiêu chí để đưa ra nhận định. Ba công việc liên quan chặt chẽ nhưng trả lời những câu hỏi khác nhau.

Em nhận 1 trên 2 điểm cho một bài giải. Con số đã được ghi, nhưng em vẫn chưa biết vì sao mất điểm và phải sửa gì. Chấm điểm, đo lường và đánh giá cùng liên quan đến bài làm ấy, song mỗi công việc trả lời một câu hỏi khác nhau.

Bắt đầu từ một bài giải ngắn

Đề yêu cầu tìm tất cả các số thực x thỏa mãn x² = 4. Em ghi x = 2. Theo quy tắc minh họa, nêu đủ hai nghiệm 2 và −2 được 2 điểm; chỉ nêu một nghiệm đúng được 1 điểm; không nêu được nghiệm đúng được 0 điểm. Người chấm đối chiếu bài làm với quy tắc và ghi 1 điểm. Đây là chấm điểm, hay scoring.

Quy tắc chấm cần được xác định rõ để hai người đọc cùng một bài không tùy ý cho hai kết quả khác nhau. Một bảng tiêu chí mô tả những mức thực hiện như vậy có thể là một rubric đơn giản. Bảng dưới cho thấy cùng bài làm ấy được sử dụng ở những công việc nào [1].

Công việcCâu hỏi cần trả lờiSản phẩm trong ví dụ
Chấm điểmBài làm được bao nhiêu theo quy tắc?Ghi 1/2 vì mới nêu một nghiệm đúng.
Đo lườngDùng những nhiệm vụ và thang nào để mô tả mức thực hiện?Tập câu phù hợp về phương trình; kết quả tổng hợp có phạm vi và độ chính xác xác định.
Đánh giáKết quả có ý nghĩa gì với mục tiêu và nên làm gì tiếp?Kiểm tra vì sao thiếu nghiệm âm; chọn nhiệm vụ củng cố phù hợp.

Tình huống và quy tắc chấm minh họa.

Có điểm số chưa có nghĩa đã hiểu đầy đủ khả năng

Đo lường rộng hơn thao tác ghi điểm của một câu. Người xây bài cần chọn nhiệm vụ, quy định cách ghi nhận kết quả và có cơ sở để con số mô tả điều muốn biết. Nếu muốn tìm hiểu khả năng giải phương trình, một câu x² = 4 mới cho thấy một biểu hiện nhỏ. Cần thêm nhiệm vụ phù hợp để xem em có kiểm tra điều kiện, tìm đủ nghiệm và vận dụng ở dạng khác hay không.

Vì vậy, 1/2 điểm của câu này không đồng nghĩa em có đúng 50% năng lực giải phương trình. Tỷ lệ điểm nhận được và mức năng lực là hai cách diễn đạt cần phân biệt. Chấm điểm có thể là một phần của quá trình đo lường; ba khái niệm trong bảng không phải những ngăn hoàn toàn tách biệt.

Đánh giá giúp biến kết quả thành quyết định

Giáo viên hỏi thêm: “Vì sao em bỏ nghiệm −2?”. Có thể em chưa hiểu bình phương số âm; cũng có thể em hiểu nhưng đọc thiếu yêu cầu tìm tất cả nghiệm. Hai trường hợp cùng nhận 1 điểm lại cần cách hỗ trợ khác nhau. Trao đổi về cách làm giúp quyết định tiếp theo có căn cứ.

Trong nghiên cứu về đánh giá trên lớp, Black và Wiliam nhấn mạnh việc sử dụng thông tin phản hồi để điều chỉnh hoạt động dạy và học [2]. Chẳng hạn, giáo viên có thể cho em thử x² = 9, giải thích cả hai nghiệm rồi kiểm tra lại bằng phép thế. Lượt luyện được chọn từ vấn đề đã xác định, thay vì chỉ yêu cầu em làm thêm nhiều bài bất kỳ.

Khi ôn thi đánh giá năng lực em nên hỏi thêm điều gì

Trong kỳ thi V-ACT của ĐHQG-HCM, thông tin chính thức phân biệt cấu trúc bài thi và cách xác định kết quả [3]. Khi luyện thi ĐGNL, em cũng nên phân biệt phiếu ghi kết quả với phần phản hồi học tập: điểm cho biết kết quả theo quy tắc nào, còn nhận xét cần chỉ ra điều nên xem lại.

Nếu được trả một bài đã chấm, hãy chọn một câu và hỏi người hướng dẫn: điểm được cho theo tiêu chí nào, bài làm thiếu ở bước nào và nhiệm vụ tiếp theo giúp kiểm tra điều gì. Hiểu được những điểm đó, em sẽ sử dụng bài đã chấm hiệu quả hơn. Một con số trở nên hữu ích khi em biết nó được tạo ra và được dùng như thế nào.

Nguồn tham khảo

[1] NCME. Assessment Glossary. Xem tài liệu

[2] Black, P., & Wiliam, D. (1998). Assessment and Classroom Learning. Assessment in Education, 5(1), 7–74. DOI 10.1080/0969595980050102

[3] ĐHQG-HCM (2026). Hỏi đáp chính thức về kỳ thi ĐGNL. Thông tin chính thức

Tất cả bài trong Nền tảng IRT Về kho kiến thức

Bạn đang tìm điều gì?

Gõ có dấu hoặc không dấu · Esc để đóng