Kỹ năng làm bài · Ứng dụng

Dùng phản ví dụ để kiểm tra một khẳng định toán học

Trong bài viết này

Em thử ba giá trị đầu và đều thấy một công thức cho số nguyên tố. Có thể kết luận nó luôn cho số nguyên tố không? Một vài ví dụ đúng có thể giúp hình thành phỏng đoán, nhưng một khẳng định nói về “mọi” trường hợp cần được kiểm tra theo cách mạnh hơn. Phản ví dụ là một công cụ để phát hiện chỗ khẳng định ấy không đứng vững.

Một trường hợp đúng điều kiện nhưng làm kết luận sai

Phản ví dụ là trường hợp đáp ứng điều kiện của một khẳng định nhưng trái với điều khẳng định ấy muốn bảo đảm. Với câu “mọi số thuộc nhóm này đều có tính chất P”, chỉ cần tìm một số trong nhóm không có tính chất P là đủ bác bỏ câu đó. Giáo trình Introduction to Philosophy của OpenStax cũng dùng phản ví dụ để kiểm tra các phát biểu phổ quát và điều kiện [1].

Điểm quan trọng là vừa đúng điều kiện, vừa sai kết luận. Nếu khẳng định chỉ nói số nguyên dương, một số âm không thể dùng để bác bỏ nó. Nếu câu nói “có ít nhất một trường hợp”, một trường hợp không đạt lại chưa đủ phủ định sự tồn tại của những trường hợp khác. Đọc phạm vi của khẳng định phải đi trước việc thử số.

Đừng để ba ví dụ đầu làm mình yên tâm quá sớm

Bài toán minh họa tự xây dựng: kiểm tra khẳng định “Với mọi số nguyên dương n, số n²+n+11 là số nguyên tố”. Số nguyên tố là số nguyên lớn hơn 1 chỉ có hai ước dương là 1 và chính nó. Em có thể lập bảng thử như sau.

Giá trị nn²+n+11Điều bảng cho biết
11+1+11=1313 là số nguyên tố.
24+2+11=1717 là số nguyên tố.
39+3+11=2323 là số nguyên tố.
11121+11+11=143=11×13143 không nguyên tố; n=11 vẫn là số nguyên dương.

Bảng tính minh họa do Song Pa xây dựng. Ba dòng đầu chỉ xác nhận ba trường hợp; dòng n=11 là một phản ví dụ đủ để bác bỏ khẳng định “với mọi n”.

Tại sao thử 11 thay vì dò mãi từng số? Hãy nhìn số 11 trong công thức. Khi chọn n=11, cả n², n và 11 đều chia hết cho 11; tổng bằng 143, lớn hơn 11 và có ước 11. Cấu trúc ấy gợi một ứng viên đáng thử. Tìm phản ví dụ có thể dựa vào quan hệ của biểu thức, không chỉ dựa vào may mắn bấm máy.

Phản ví dụ bác bỏ điều gì và chưa chứng minh điều gì

Dòng cuối bác bỏ câu “mọi số nguyên dương đều cho kết quả nguyên tố”. Nó không nói mọi kết quả đều không nguyên tố, vì ba dòng đầu đã cho các kết quả nguyên tố. Cũng không đủ để kết luận chỉ có ba kết quả nguyên tố. Phạm vi của kết luận sau kiểm tra phải vừa với điều đã tìm thấy.

Nếu em thử n=−11 và nhận 121, kết quả không nguyên tố ấy không phải phản ví dụ hợp lệ cho khẳng định chỉ nói số nguyên dương. Còn khi không tìm được phản ví dụ sau vài lần thử, em vẫn chưa có một chứng minh cho vô số giá trị. Lúc đó cần một lập luận bao quát hoặc một kết quả toán học phù hợp.

Trong các câu kiểm tra nhận định khi ôn HSA hay V-ACT, em có thể ghi phản ví dụ theo ba dòng: giá trị đã chọn thuộc miền nào; thay vào được gì; điều kiện vẫn đúng nhưng kết luận sai ở đâu. Một phép thử trình bày đủ ba phần sẽ giúp em phân biệt việc bác bỏ một khẳng định với việc chỉ tìm một con số trông khác các ví dụ đã quen.

Nguồn tham khảo

[1] OpenStax, Rice University. Introduction to Philosophy, mục 5.2 Logical Statements: dùng phản ví dụ kiểm tra phát biểu điều kiện và phổ quát. Kiểm tra ngày 31/10/2026. Bảng biểu thức trong bài do Song Pa tự xây dựng. Xem tài liệu

Tất cả bài trong Kỹ năng làm bài Về kho kiến thức

Bạn đang tìm điều gì?

Gõ có dấu hoặc không dấu · Esc để đóng